Mối quan hệ giữa mô hình hồi quy, đường dẫn, nhân tố khẳng định và cấu trúc tuyến tính

0
Khuyến mãi mới

Mô hình hồi quy tuyến tính

Mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng hệ số tương quan và tiêu chuẩn bình phương nhỏ nhất để tính các trọng số hồi quy. Mô hình này đầu tiên được đề xuất bởi Karl Pearson vào năm 1896 nhằm đưa ra chỉ số về mối quan hệ giữa hai biến. Mô hình hồi quy có thể dự báo biến phụ thuộc với điều kiện cho trước thông số về các biến độc lập. Ví dụ: Phân tích hồi quy được sử dụng để dự báo kết quả học tập của sinh viên (biến phụ thuộc) dựa trên các biến độc lập - là các biến về quá trình học tập.

Mô hình nhân tố khẳng định

Sau đó vào năm 1904, Charles Spearman sử dụng hệ số tương quan để xác định các biến nào có tương quan với nhau và xây dựng mô hình nhân tố. Ý tưởng cơ bản của Spearman là nếu một nhóm các biến có tương quan với nhau thì chúng có thể được gom lại và tạo ra một chỉ số đại diện có thể xác định và đo lường được. Spearman cũng là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ phân tích nhân tố trong giới khoa học và ngày nay nó đã trở thành một công cụ phổ biến trên thế giới.

Thuật ngữ phân tích nhân tố khẳng định (CFA) dựa trên nghiên cứu của Howe vào năm 1955. Nếu phân tích nhân tố đã được sử dụng hơn 100 năm qua để tạo ra các công cụ đo lường trong nghiên cứu khoa học xã hội thì CFA được sử dụng để kiểm định sự tồn tại của các khái niệm lý thuyết. Ví dụ, CFA được sử dụng để xác nhận mô hình "Big Five" của Goldberg về cá tính của con người.

Xem thêm: Phân biệt CFA và EFA

Mô hình đường dẫn (path model)

Sewell Wright - một nhà sinh vật học - là người phát kiến ra mô hình đường dẫn. Mô hình đường dẫn sử dụng hệ số tương quan và phân tích hồi quy để xây dựng mô hình nhằm giải thích các mối quan hệ phức tạp giữa các biến quan sát được. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1950 mô hình đường dẫn mới được thừa nhận rộng rãi khi có sự xuất hiện của mô hình phương trình đồng thời. Trong nhiều khía cạnh, mô hình đường dẫn bao gồm cả việc xử lý các nhóm phương trình hồi quy đồng thời. Ví dụ: Mô hình của Walberg về hiệu quả giáo dục được Parkerson (1984) kiểm định đối với học sinh từ lớp 5 đến lớp 8 thông qua các biến: môi trường học tập tại nhà, nhóm học tập, phương tiện, khả năng, môi trường xã hội, động lực, thời gian làm bài tập và chiến lược hướng dẫn chỉ với một mô hình duy nhất.

Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Mô hình SEM là sự kết hợp giữa mô hình đường dẫn và mô hình nhân tố khẳng định, nó xử lý cả biến tiềm ẩn và biến chỉ thị. Mô hình này lần đầu được giới thiệu bởi Karl Jöreskog, Ward Keesling và Ward Keesling vào năm 1969 nên ban đầu có tên là JKW. Về sau, cái tên đó được thay thế bằng mô hình quan hệ cấu trúc tuyến tính (LISREL) khi phần mềm LISREL dần trở nên phổ biến hơn. Đến năm 1994, mô hình này bắt đầu trở nên phổ biến và áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Người ta đã tính ra, từ 1994 đến 2001, số lượng các bài báo khoa học sử dụng SEM tăng mạnh và SEM trở thành công cụ phổ biến nhất trong các phương pháp phân tích đa biến.

Xem thêm: Giới thiệu về SEM

Leave A Reply